Tài liệu kỹ thuật trồng cây sầu riêng

Tài liệu Kỹ thuật trồng cây sầu riêng công nghệ cao

Xin đánh giá 5 sao hi

Sầu riêng là cây trồng có giá trinh kinh tế cao, ở nước ta sầu riêng chủ yếu được trồng ở khu vực Đông Nam bộ, Tây Nguyên, Đồng bằng Sông Cửu Long. Trong bài viết hôm nay Hoàng Anh Mall xin giới thiệu với bà con quy trình trồng và chăm sóc cây sầu riêng hiệu quả, năng suất.

Tài liệu kỹ thuật trồng cây sầu riêng

QUY TRÌNH KỸ THUẬT TRỒNG CÂY SẦU RIÊNG

  1. YÊU CẦU VỀ SINH THÁI
  2. Nhiệt độ – ẩm độ

Khi cây ra hoa cần nhiệt độ không khí từ 20 – 22oC.

  1. Lượng mưa

Thích hợp cho sầu riêng ít nhất phải đạt 1.500 mm và phân bố đều. Nếu khô hạn kéo dài quá 03 tháng sẽ ảnh hưởng xấu đến sinh trưởng, đặc biệt trong giai đoạn ra hoa, trái.

  1. Đất đai

Sầu riêng thích hợp với đất có tầng canh tác dày, thoát nước tốt, giàu chất hữu cơ, đất đen, đất xám, đất đỏ Bazan của tỉnh Đồng Nai rất thích hợp với cây sầu riêng.

– Sầu riêng không phát triển được ở vùng đất nhiễm phèn, nhiễm mặn, đất có tỷ lệ sét cao và độ phì kém.

– Nếu trồng sầu riêng trên đất thấp phải đào mương, lên liếp đảm bảo tối thiểu từ mặt đất đến mực nước ngầm > 03 m.

– pH thích hợp cho cây sầu riêng từ 4,5 – 6,5. 

Nếu bạn quan tâm máy đo pH đất có thể xem bài viết này.

  1. Ánh sáng

Cây còn nhỏ yêu cầu ánh sáng nhẹ, cây lớn chịu được ánh sáng trực xạ.

  1. GIỐNG
  2. Chọn giống

Có nhiều giống sầu riêng được trồng ở các tỉnh miền Đông và Tây Nam Bộ. Riêng ở Đồng Nai trong những năm gần đây, nhà vườn đã chọn lọc, trồng giống có năng suất cao, chất lượng tốt gồm sầu riêng Dona, Ri6, Chín hóa, sầu riêng hạt lép Long Khánh (HL11), Khổ qua xanh.

  1. a) Giống sầu riêng Chín hóa

– Nguồn gốc ở xã Vĩnh Thành, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.

– Đặc điểm: Năng suất cao (hơn 100 trái/cây/năm) ổn định qua các năm, trái phân bổ đều, trung bình 3 – 3,5 kg/trái; dạng trái cân đối, cơm có màu vàng đều, không xơ, mềm dính tay, tỷ lệ cơm cao 28,8%, hạt lép chiếm 72,9%, vị béo ngọt, mùi thơm hấp dẫn, trồng phổ biến ở các tỉnh Nam Bộ. Vỏ mỏng, chín sớm hơn sầu riêng Moon thong.

  1. b) Giống sầu riêng hạt lép Long Khánh (HL11)

– Nguồn gốc ở thị xã Long Khánh, tỉnh Đồng Nai.

– Đặc điểm: Cây có tán tròn đều, năng suất cao (hơn 110 trái/cây/năm) và ổn định. Trái có trọng lượng trung bình 1,5 – 1,8 kg. Dạng trái khá cân đối, cơm màu vàng đều, không xơ, ráo, mịn chắc, tỉ lệ cơm cao 29,6%, hạt lép 60%, vị béo ngọt, thơm hấp dẫn.

  1. c) Sầu riêng Dona

– Có nguồn gốc từ Thái Lan, được Công ty DonaTechno đăng ký và được Bộ Nông nghiệp & PTNT công nhận giống năm 2005.

– Đặc điểm: Có trái to từ 2,5 – 5 kg, bình quân 3 kg/trái, độ dày cơm 26 mm, hạt lép, cơm ráo, tỷ lệ cơm 35%, mùi vị không thơm và béo như Chín hóa và Ri6. Vỏ dày thích hợp xuất khẩu, vận chuyển đi xa.

  1. d) Sầu riêng RI6

– Nguồn gốc từ tỉnh Vĩnh Long.

– Đặc điểm: Mẫu mã trái đẹp, chất lượng ngon tương đương như sầu riêng Chín Hóa, được nhiều nhà vườn tại huyện Cẩm Mỹ, thị xã Long Khánh trồng. Vỏ mỏng, chín sớm hơn sầu riêng Moon thong.

  1. Kỹ thuật nhân giống
  2. a) Nhân giống

* Chuẩn bị gốc tháp

– Chọn hột từ trái chín, không sượng, rửa kỹ bằng nước vôi, ủ ngay vì hột dễ mất sức nẩy mầm. Trải hột kề nhau trên lớp đất ẩm dày khoảng 10 cm, tủ cỏ khô, tưới nhẹ giữ ẩm mỗi ngày.

– Khi hột nẩy mầm, gieo vào liếp, khoảng cách 30 x 30 cm, đặt tể hột úp xuống, 1/2 đáy hột hướng lên trên, phủ cỏ và tưới đủ ẩm. Khi cây con phát triển 02 – 03 nhánh, chọn giữ lại 01 nhánh tốt nhất. Gốc tháp 01 – 02 năm tuổi là tốt nhất.

* Chọn cây lấy mắt tháp

Chọn mắt tháp từ cây mẹ ưu tú có năng suất cao, phẩm chất tốt, ít sâu bệnh và đã cho trái ổn định trên 03 năm hoặc chọn mắt tháp từ cây sầu riêng được chứng nhận cây đầu dòng.

* Cách tháp (tháp mắt)

– Tháp vào khoảng tháng 6 – 9 DL, có mưa nhiều, nhiệt độ và ẩm độ thích hợp cho tỷ lệ sống cao.

– Kiểu tháp chữ nhật: Miệng tháp cách mặt đất từ 20 – 25 cm, mở miệng tháp dài từ 2 – 2,5 cm, rộng 1 – 1,5 cm (tránh làm trầy gỗ bên trong), rạch một đường chia lớp vỏ đậy ra 02 phần (trên 7/dưới 3).

– Chọn mắt tháp từ những mầm nhú lên ở nách lá trên cành hoặc những mắt ngủ (nông dân thường gọi là hạt gạo). Lấy mắt dạng hình chữ nhật, kích thước tương ứng với phần mở miệng tháp trên gốc tháp.  

– Đặt mắt tháp vào miệng tháp, đậy vỏ lại sao cho mầm nhú ra ngoài, đậy xong quấn dây nilon kín lại.

  1. b) Tiêu chuẩn cây giống

Tùy theo vùng đất, mực nước ngầm mà chọn cây tháp hay cây chiết. Cây tháp thích hợp vùng đất cao vì rễ cây tháp mọc sâu. Cây chiết thích hợp vùng đất thấp, mực nước ngầm cao vì rễ cây chiết mọc cạn. Hiện tại ở Đồng Nai rất ít hộ trồng sầu riêng bằng cây chiết.

Tiêu chuẩn cây giống ghép:

– Cây phải đúng giống, lá xanh tốt, bộ rễ phát triển tốt.

– Vị trí tháp cách gốc 20 – 25 cm.

– Đường kính gốc 1,2 – 1,5 cm (ngay vị trí tháp).

– Chiều cao 60 – 70 cm (tính từ mặt bầu).

– Kích thước bầu đất: 15 x 30 cm (phần thể tích nuôi cây giống).

III. KỸ THUẬT TRỒNG, CHĂM SÓC

  1. Chuẩn bị đất

* Thiết kế vườn trồng phải đảm bảo các yêu cầu sau:

– Thoát nước tốt trong mùa mưa. Tùy theo địa hình đất cao hay thấp để bố trí bề rộng, bề sâu của mương thoát nước cho phù hợp, mương chính theo hướng dốc, mương phụ vuông góc với mương chính.   

+ Mương phụ: Rộng 0,3 – 0,4 m; sâu 0,3 – 0,4 m.

+ Mương chính: Rộng 0,5 – 0,8 m; sâu: 0,5 – 0,7 m.

– Chống xói mòn để giữ độ phì cho đất.

– Đảm bảo vườn thông thoáng, hạn chế và ngăn chặn các sâu bệnh hại xâm nhiễm từ bên ngoài.

* Chuẩn bị hố trước khi trồng từ 01 – 02 tháng

– Khoảng cách hố (khoảng cách trồng): Đất tốt 10 m x 10 m (100 cây/ha); đất xám 8 m x 10 m (125 cây/ha).

– Đào hố kích thước 0,8 m x 0,8 m x 0,8 m. Dùng 0,5 kg vôi rải đều xung quanh và miệng hố trước khi bón lót.

– Bón lót (sau khi đào hố, rải vôi 02 tuần): Trộn đều 20 kg – 40 kg phân hữu cơ hoai mục + 1 kg phân lân + ½ kg vôi + lớp đất mặt, lấp hố trồng, mặt hố cao hơn mặt đất tự nhiên.

  1. Thời vụ

Trồng từ đầu đến giữa mùa mưa (tháng 5 – 8 DL). Nếu trồng trong mùa khô phải có nước tưới và làm giàn che.

  1. Kỹ thuật trồng

– Đào lỗ giữa hố trồng (đã chuẩn bị) lớn hơn kích thước bầu một chút, cắt bỏ ni lông sao cho không bể bầu, rễ không bị tổn thương. Nếu thấy rễ quá già và quấn chung quanh bầu, dùng kéo bén tỉa bỏ bớt rễ già.

– Đặt cây vào hố dùng đất nén chặt chung quanh bầu cây. Cắm 03 cây theo hình tam giác đều, chụm lại buộc nhẹ để giữ và chống cây.

– Dùng rơm hay cỏ khô tủ giữ ẩm, che mát cho cây con trong thời kỳ đầu, thường xuyên giữ ẩm cho cây. Trong giai đoạn đầu cần trồng xen canh hoặc trồng cây phủ đất để giữ ẩm, chống xói mòn và không lãng phí đất.

  1. Chăm sóc
  2. a) Bón phân

* Phân hữu cơ

Vườn sử dụng nhiều phân hữu cơ, cây sầu riêng có bộ lá xanh tốt, màu sắc cơm đậm hơn và không có trái bị sượng.

Lượng bón: Phân chuồng, phân ruốc, phân dơi (đã ủ hoai) 20 – 30 kg/cây/năm 

* Phân vô cơ

– Giai đoạn kiến thiết cơ bản

+ Lượng phân bón khuyến cáo như sau:

TTTuổi câyLoại phân (NPK)Số lượng (kg/cây/năm)Số lần bón/năm
1Năm 116-16-8-13 S hay 20-20-150,505
2Năm 216-16-8-13 S hay 20-20-15104
3Năm 316-16-8-13 S hay 20-20-151,503
4Năm 412-12-173,503

+ Cách bón: Cây còn nhỏ, nên pha phân vào nước để tưới, từ năm thứ 3 bón theo hình chiếu tán.

+ Nên bón phân sunfat kali (K2SO4), không bón phân clorua kali (KCl) dễ làm giảm chất lượng trái (sượng trái).

– Giai đoạn kinh doanh

+ Trong những năm cây cho trái ổn định, bón phân theo từng giai đoạn như sau

STTThời kỳ
sinh trưởng
Dạng phân Số lượng
(kg/cây)
1Sau khi thu hoạchPhân NPK: 16.16.8.13S hoặc 20.20.15 hoặc 12.12.17.22 – 4
Phân hữu cơ hoai mục10 – 20
2Trước khi có bông 01 – 02 thángPhân NPK: 10-52-17 hoặc 8.24.242 – 4
Xịt MKP 0.52.34
3Sau khi đậu trái (trái bằng trái cam)Phân NPK: 16.16.8.13S hoặc 20.20.15 hoặc 12.12.17.22 – 2
409 tuần sau khi đậu tráiPhân NPK: 20.20.151 – 2
5Từ 05 – 09 tuần sau khi đậu tráihoặc xịt KNO340 g/20 lít

Ghi chú: Có thể chuyển đổi phân NPK sang dạng phân đơn như sau:

1 kg NPK 20-20-15 = 0,43 kg urê + 1,21 kg lân + 0,31 kg kali trắng.

1 kg NPK 12-12-17 = 0,26 kg urê + 0,72 kg lân + 0,35  kg kali trắng.

1 kg NPK 10-52-17 = 0,22 kg urê + 3,15 kg lân + 0,35  kg kali trắng.

  1. b) Kỹ thuật bón phân

– Bón chung quanh tán cây và rải đều dưới tán, dùng cào trộn với đất mặt, nếu trời không mưa tưới nhẹ.

– Vườn lắp đặt hệ thống tưới nước tiết kiệm kết hợp bón phân vô cơ cho cây sầu riêng qua đường ống. 

  1. c) Tưới nước

– Để canh tác phù hợp biến đổi khí hậu cần lắp đặt hệ thống tưới nước tiết kiệm (tưới phun, tưới thấm, tưới nhỏ giọt tùy từng điều kiện) kết hợp bón phân qua đường ống để tiết kiệm nước, tiết kiệm phân bón.

– Hệ thống lắp đặt bón phân và tưới nước qua đường ống cần phải có van điều chỉnh thích hợp đúng kỹ thuật.

Chú ý:

+ Căn cứ vào hướng dẫn các đợt bón phân vô cơ trong quy trình kỹ thuật, mỗi đợt bón chia phân 03 – 05 lần hòa vào hệ thống tưới, mỗi lần cách nhau 07 – 10 ngày.

+ Phân bón được ngâm trước 01 ngày, khuấy đều khi ngâm để phân hòa tan hoàn toàn (không nên sử dụng các loại phân khó tan).

+ Khi vận hành máy bơm, dưới lực hút của máy, nước từ giếng và dung dịch phân trong bồn chứa sẽ được hút vào máy bơm và được khuấy đều đưa vào hệ thống tưới và ra các vòi tưới cho cây, có thể thay đổi lượng phân bón trước khi đi vào trong máy bằng khóa điều chỉnh.

+ Cần phải súc rửa đường ống tưới sau khi bón phân tránh nghẹt ống.

– Trồng cây phủ đất: Hiện nay các vườn cây ăn trái thường trồng một số cây che phủ để giữ ẩm, cải tạo đất như cây lạc dại, cây thài lài, cây họ đậu (đậu Mucuna) cỏ Kudzu.

  1. d) Tỉa cành – tạo tán

Mục đích:

– Tạo hình thuận tiện cho ra hoa, quả.

– Cây có bộ khung khỏe.

– Ra hoa quả đều, tránh hiện tượng ra quả cách năm.

– Giảm thiệt hại do gió, bão, sâu bệnh.

* Tạo hình sầu riêng con

– Chỉ để 01 ngọn, tỉa bỏ hết chồi gốc.

– Tại cùng 01 vị trí không để 02 cành vì cây dễ bị chẻ 02 khi cây mang nhiều quả.

– Khoảng cách các cành trên thân chính: Khi cây còn nhỏ nên để 8 – 10 cm, khi cây lớn khoảng cách là 30 cm.

– Cành đầu tiên cách mặt đất 30 cm khi lớn khoảng cách là 01 m.

– Tỉa bỏ cành vọt (cành mọc thẳng lên trời), cành gầy yếu.

* Cắt tỉa cành khi cây cho trái ổn định

– Sầu riêng kết quả trên thân, cành, nên chỉ để lại cành khỏe, cắt tỉa làm 03 lần.

Lần 1: Sau khi thu hoạch xong, cắt cành khô, cành bệnh, cành gầy yếu.

Lần 2: Trước khi bón phân lần 2, cắt tỉa vào tháng 8 – 9 DL, cắt bỏ những cành vọt, cành bệnh, cành khô.

Lần 3: Khi cây đã có quả to bằng quả quýt, cắt tỉa lần này tiến hành đồng thời với cắt tỉa quả, tập trung dinh dưỡng cho những quả còn lại.

* Tỉa hoa, trái non

Hoa quả sầu riêng rất nhiều, cây không đủ sức nuôi nên phải tỉa bớt và tạo điều kiện để hoa phía trong đậu trái, trái đồng đều, không dị tật, chất lượng như nhau.

Kỹ thuật tỉa hoa: Cây sầu riêng ra hoa từ 02 – 03 đợt. Chọn 01 đợt chính và loại bỏ những đợt không thích hợp. Sau khi loại bỏ những hoa ở đầu cành và những đợt hoa không thích hợp tiến hành tỉa như sau:

Lần 1: Sau khi hoa nở từ 20 – 30 ngày tỉa bỏ 50% số lượng hoa và trái.

Lần 2: Sau khi hoa nở 35 – 42 ngày chọn lọc và để số trái gấp 2 lần số trái cần thiết.

Lần 3: Sau khi hoa nở 50  – 56 ngày để lại số trái phù hợp với sức của cây từ 60 – 150 trái tùy vào tuổi cây, khả năng chăm sóc và sức khỏe của cây.

đ) Thụ phấn bổ sung

Hoa sầu riêng lưỡng tính mọc thành chùm. Hoa nở từ 15 giờ chiều cho đến 6h sáng hôm sau. Bao phấn nứt từ 19 giờ tới 23 giờ đêm nhưng lúc này nhụy đã tàn. Vì vậy hoa sầu riêng thường không tự thụ phấn được mà cần nhờ phấn của cây khác qua gió, côn trùng, dơi nên thường có hiện tượng trái méo.

Đối với giống sầu riêng Dona, vườn trồng chuyên canh thường cho trái có dạng không đồng đều. Nếu trồng xen trong vườn giống sầu riêng khác (Khổ qua,  Ri6) thì trái đậu có dạng rất đẹp.

Để trái có dạng đều, đẹp nên thụ phấn bổ sung: Thời gian thực hiện vào khoảng 20 giờ. Dùng bao ni lon rung chùm hoa đã nở lấy rồi bổ sung cho chùm hoa ở vị trí thuận lợi dự định để trái, dễ chăm sóc, thu hoạch.

  1. e) Xử lý ra hoa trái vụ

Để điều khiển cho cây sầu riêng ra hoa trái vụ cần thiết phải đảm bảo các yêu cầu sau:

– Điều kiện khí hậu phải phù hợp: Mưa vừa phải, nhiệt độ trung bình, đất phải thoát nước và khô nhanh sau mưa.

– Cây phải được bón phân đầy đủ và cân đối, cành khỏe, tán lá cân đối, bộ lá xanh mượt để có thể ra hoa khi điều kiện thích hợp.

– Bảo vệ tốt bộ lá, chống sâu bệnh phá hại.

– Trừ cỏ để đất khô nhanh khi mưa dứt.

* Xử lý ra hoa

Bước 1: Ngay sau khi thu hoạch xong (khoảng tháng 7 DL), tiến hành tỉa tán ngay cho cây mẹ, vệ sinh vườn sạch sẽ, phun thuốc trừ sâu bệnh cho cây.

Mỗi cây bón 50 kg phân hữu cơ hoai mục + 3 kg super lân hoặc 1,5 kg DAP (cũ là 5 kg vôi) + 2 – 3 kg NPK (15-15-15) hoặc AT1 (1,5 – 2 kg/cây).

Bước 2: Sau khi cơi 1 già, khoảng cuối tháng 9 đầu tháng 10 dương lịch, bón thúc cơi 2 gồm 3 kg DAP + 2 kg sunphat kali hoặc bón AT 2 (1,5 – 2 kg/cây).

Phủ nilon vào cuối tháng 9 dương lịch hoặc làm mương thoát nước, khi nhú mầm hoa bằng hạt gạo thì tháo bỏ nilon.

Chú ý: Bảo vệ đọt lá non.

Bước 3: Sau khi cơi 2 ở dạng lá lụa mỏng khoảng cuối tháng 9 dương lịch, phun đẫm bộ tán lá bằng Paclobutrazol  (min 95 %) (Super Cultar Mix) 40 g cho 01 bình 8 lít.

Sau 01 tuần, phun đẫm tán lá bằng TOBASUN 15 g/bình 8 lít (tác dụng là cung cấp dưỡng chất cho cây tạo phân hóa mầm hoa), phun 02 lần, mỗi lần cách nhau 01 tuần.

Sau 02 tuần phun đẫm tán lá bằng F94(ra bông). 20 g/bình 8lít. Sau khi phun 20 ngày hoa sầu riêng sẽ nhú ra.

Chú ý: Sau khi sử dụng hóa chất nếu có mưa, phải phun bổ sung MKP (0-2-34) liều lượng 40g/bình 8 lít để khống chế sự ra lá non của cây, ảnh hưởng đến kết quả xử lý. Nếu mưa liên tục phải phun từ 02 – 03 lần cách nhau 01 tuần/lần.

* Xử lý đậu trái

Bước 1: Khi hoa có kích thước bằng hạt tấm gạo, bón 300 g DAP + 100g Sunphat Kali/cây.

Bước 2: Bón phân qua lá

– Lần 1: cùng thời điểm với bón phân gốc, phun F95 (nuôi bông) qua lá (10cc/bình 8lít).

– Lần 2: Khi phần lớn nụ hoa bằng đầu ngón tay út, phun F95 lần 2.

– Lần 3: Khi phần lớn hoa bắt đầu nở, trái non vừa hình thành Phun F95 lần 3. 

* Một số lưu ý khi xử lý ra hoa trái vụ trên cây sầu riêng

– Tránh thay đổi đột ngột ẩm độ đất để hạn chế hiện tượng rụng hoa hàng loạt.

– Khi nụ hoa bằng ngón tay út phải tỉa bỏ bớt số hoa/chùm, chỉ chừa lại 03 hoa/chùm. Tổng số hoa chừa lại bằng 05 lần số muốn lấy trái sau này.

– Khi trái non bằng quả trứng vịt tỉa bỏ các trái dị dạng, cuống trái nhỏ, số trái chừa lại bằng 1,5 lần số trái muốn lấy sau này.

* Nuôi trái và chống sượng trái.

Bước 1: Bón phân gốc

Lần 1: Khi đa số trái bằng quả trứng vịt, bón 200 g DAP + 100 g sunphat kali.

Lần 2: 15 ngày sau khi bón phân lần 1 bón 200 g urê sữa (Ca(NO3)2.

Sau khi bón phân nuôi trái lần 2 không nên tiếp tục bón phân vì dễ gây ra hiện tượng sượng trái.

Bước 2: Bón phân qua lá

Khi trái non vừa đậu đến khi trái non bằng quả trứng vịt phun 15cc TOBA FRUIT để ngăn ngừa hiện tượng rụng trái non.

Chú ý: Giữ ẩm đều cho cây, không để ẩm độ đất thay đổi đột ngột dễ gây ra hiện tượng rụng trái non.

– Giai đoạn trái to (> 1 kg/trái) phải chú ý theo dõi, phòng trừ sâu đục trái.

– Khi trái có cơm, chú ý phòng trừ bệnh thối trái, nhất là những ngày có mưa liên tục.

  1. PHÒNG CHỐNG SÂU BỆNH HẠI CHÍNH

Ưu tiên áp dụng Quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) để phòng chống sâu bệnh hại trên cây sầu riêng:

– Làm đất, phơi đất trước khi trồng ít nhất 02 tuần để diệt trứng, nhộng sâu hại.

– Bảo vệ thiên địch và vi sinh vật có ích để khống chế sâu bệnh hại.

– Khi sử dụng thuốc BVTV phải tuân thủ nguyên tắc “4 đúng”, ưu tiên thuốc có nguồn gốc sinh học để quản lý sâu bệnh hại.

– Áp dụng tốt biện pháp sử dụng giống và canh tác đã nêu ở các phần trên.

  1. Sâu hại
  2. a) Rầy phấn (rầy nhảy, rầy trắngAllocaridara malayensis)

* Nhận dạng

– Thành trùng dài 3 – 5 mm; cơ thể màu nâu lợt; cánh trong suốt; có thể sống đến 06 tháng, ít di chuyển và chỉ bay khi bị động đến. Con cái có thể sống 02 – 03 tuần và đẻ trên 100 trứng.

– Trứng màu vàng nhạt, hình bầu dục, có một đầu hơi nhọn, kích thước khoảng 1 mm. Trứng được đẻ sâu trong mô lá non còn xếp lại, đẻ thành từng đám hình vòng cung từ 08 – 14 trứng. Trứng nở trong vòng 05 – 06 ngày.

– Ấu trùng màu vàng, có những sợi tơ sáp trắng như bông phát triển quanh thân và kéo dài ở chóp đuôi. Các sợi sáp này hay bị đứt (tạo thành bụi tơ trắng bay trong gió) và mọc lại dễ dàng. Ấu trùng có thời gian phát triển khoảng 10 – 20 ngày tùy vào thời tiết và dinh dưỡng của cây. 

* Tập quán sinh sống và cách gây hại

Rầy thường xuất hiện và phát triển mạnh vào giai đoạn cây nẩy lộc (tháng 6, 7, 8, 9). Mật độ rầy tăng nhanh trong điều kiện nhiều lộc non và ít mưa. Thành trùng và ấu trùng dễ bị rửa trôi và chết dưới vòi phun nước cao áp.

Trong vườn nếu có rầy sẽ rất dễ thấy những bụi tơ trắng bay khắp nơi vào những lúc trời nắng và có gió.

Ấu trùng và thành trùng chích hút nhựa lá non và đọt, tạo ra các đốm nâu viền vàng (giống như rỉ sắt) trên bề mặt lá, làm lá quăn queo, khô rụng dẫn tới cành bị trụi lá và khô chết. Ngoài ra rầy còn tiết ra mật ngọt tạo điều kiện cho nấm bồ hóng phát triển, tạo thành lớp muội đen trên lá.

Nếu không chú ý phòng trừ tốt, nhất là bảo vệ đợt lộc đầu tiên sau thu hoạch, có thể bị thiệt hại nặng

Thành trùng bị hấp dẫn bởi màu vàng chanh.

* Phòng chống

– Điều khiển cây ra đọt non đồng loạt để dễ trừ rầy (phun dung dịch urê 1% lên lá khi 10 – 15% số cây trên vườn có dấu hiệu nẩy lộc để rút ngắn thời gian bị hại và dễ phòng trừ đồng loạt).

– Dùng vòi phun áp lực cao phun nước lên tán khi lá vừa mở để diệt rầy.

– Dùng bẫy dính màu vàng treo vào các cành có rầy để diệt thành trùng.

– Bảo tồn thiên địch của rầy phấn như ong ký sinh trứng, ấu trùng và các loài ăn thịt như bọ rùa, chuồn chuồn cỏ, nhện ăn thịt.

– Khi mật số rầy cao có thể dùng các thuốc có hoạt chất như Imidacloprid.

  1. b) Nhện đỏ (Eutetranichus)

* Nhận dạng

– Trưởng thành màu nâu sẫm hình ô van dẹt (dài 0,4 mm, rộng 0,3 mm).

– Trứng được đẻ riêng lẻ, hình tròn.

Thường có nhiều lứa nhện gối nhau trên vườn sầu riêng cùng một lúc.

* Tập quán sinh sống và cách gây hại

Nhện thường xuất hiện trong mùa khô (từ tháng 11 –  4 năm sau) và gây hại mạnh trong thời tiết khô hạn, bộc phát và lây lan nhanh gây rụng lá hàng loạt trên vườn.

Nhện đỏ ăn phần nhựa ở bề mặt lá gây ra các dãy màu trắng lấp lánh trên lá, nhiễm nặng lá bị rụng lúc còn xanh ảnh hưởng đến hoa và đậu trái của cây.

* Phòng chống

– Bảo tồn thiên địch của nhện đỏ gồm: Nhện thiên địch, ruồi chân dài, bọ kiến, bọ rùa…

– Hạn chế dùng thuốc hóa học, giữ độ ẩm tán lá ở mùa khô.

– Khi nhện đỏ thường xuyên tăng mật số: Dùng máy phun cao áp phun 1 – 2 giờ/ngày cho ướt toàn bộ tán lá. Ẩm độ trong vườn cao không thích hợp cho nhện đỏ phát triển và thuận lợi để duy trì nguồn thiên địch của nhện đỏ.

– Khi có trên 25% số lá già bị nhiễm nhện đỏ, dùng luân phiên các loại thuốc trừ nhện hại có đăng ký trong danh mục trên cây sầu riêng.

  1. c) Sâu hại bông, cuống trái non (Orgyia postica)

* Nhận dạng

– Bướm màu vàng lợt, sải cánh 28 – 30 mm, thường đẻ trứng trên các chùm bông, mỗi con đẻ 50 – 60 trứng.

– Ấu trùng thuộc nhóm sâu róm có nhiều lông, ở giữa lưng có sọc đỏ, bên hông sọc vàng, đầu màu đỏ. Sâu đẫy sức dài khoảng 10 mm.

– Sâu nhả tơ kết các bộ phận hoa bị chết (hoa, cuống hoa) cùng phân xâu lại với nhau và làm nhộng bên trong đó.

* Tập quán sinh sống và cách gây hại

Sâu mới nở tụ thành đàn và phân tán khi lớn lên. Ấu trùng ăn hoa, cuống hoa, cuống trái non tạo những vết đục ngoằn ngoèo trên cuống hoa hoặc cuống quả non, có thể làm đứt cuống hoa hoặc quả non. Sâu gây hại nặng ở giai đoạn trái non (tháng 2 – 3).

* Phòng chống

 Do sầu riêng trổ rất nhiều hoa và chỉ đậu trái 5% số hoa nên thiệt hại do sâu đục bông không đáng kể. Tuy nhiên, nếu sâu bộc phát thành dịch và gây hại cho nhiều bông mọc ở gần thân cây hoặc ở các cành to (là những hoa sẽ cho quả ở vị trí tốt vì khó rụng khi bị gió bão sau này) thì cần thiết phải phòng trừ. Có thể dùng các loại thuốc hóa học thông thường và chú ý là tránh phun lúc hoa đang nở.

  1. d) Sâu đục trái (Conogethes punctiferalis)

Loài này gây hại bằng cách đục quả trên nhiều loại cây ăn quả: Sầu riêng, chôm chôm, nhãn, ổi, mãng cầu xiêm, mít. 

* Nhận dạng

– Trưởng thành (bướm) có màu vàng cam và có nhiều chấm màu nâu đen rải rác khắp cơ thể (cánh, thân), sải cánh dài 2 – 2,3 cm.

– Trứng có hình elip dài 2 – 2,5 mm, lúc mới đẻ có màu trắng sữa, khi sắp nở có màu vàng nhạt.

– Sâu non mới nở có màu trắng sữa, đầu màu nâu, về sau chuyển thành màu trắng hơi ửng hồng, trên lưng mỗi đốt cơ thể có 4 chấm màu nâu nhạt. Sâu có 5 tuổi, sâu đẫy sức màu nâu nhạt với những đốm đen chạy dọc cơ thể, dài khoảng 1,5 – 1,8 cm.

– Nhộng màu nâu đen, nằm giữa các gai quả, có lớp phân bao phủ. Nhộng dài khoảng 1,2 – 1,3 cm nằm trong một cái kén bằng tơ, lúc đầu có màu nâu nhạt khi sắp vũ hóa có màu nâu đậm.

* Tập quán sinh sống và cách gây hại

– Trưởng thành hoạt động về đêm, ngày nấp ở nơi tối hoặc mặt dưới lá cây, chúng ăn mật hoa. Con cái đẻ trứng trên vỏ trái non, sâu non nở ra thường ăn ở phần vỏ sau đó đục vào trong trái, hóa nhộng ngay trên đường đục hoặc ra ngoài và hóa nhộng trên vỏ trái.

– Sâu mới nở đục vào vỏ trái (xen giữa các gai). Sâu lớn đục vào bên trong trái để lại vết phân màu nâu bên ngoài lỗ đục, phần vỏ quanh các đốm phân bị biến vàng. Sâu gây hại từ khi trái còn non đến trưởng thành, đặc biệt hại nặng trên các chùm trái hơn là các trái đơn độc. Trái non bị hại sẽ biến dạng và rụng, trái lớn bị hại ảnh hưởng đến giá trị thương phẩm đồng thời sâu hại tạo điều kiện cho nấm bệnh tấn công theo vết đục làm thối trái.

* Phòng chống

– Tạo điều kiện cho thiên địch phát triển hạn chế sâu hại: Giảm phun thuốc hóa học, tạo độ ẩm và chỗ ở thích hợp cho thiên địch. Có một số loài ong có thể ký sinh trứng, ấu trùng và nhộng, ngoài ra còn có các loài ăn thịt như nhện ăn thịt, kiến vàng, bọ xít săn mồi.

– Cắt tỉa và tiêu hủy các trái dính chùm, trái kém phát triển, nhiễm sâu bệnh.  

– Dùng que, cành cây nhỏ đặt vào chỗ tiếp xúc giữa các trái mọc dính nhau để ngăn tách các trái đóng cặp hạn chế thiệt hại.

– Bao trái bằng các bao chuyên dụng.

– Đặt bẫy đèn xanh đen (bóng đèn ống có ánh sáng màu xanh dương) trong vườn ban đêm để bẫy trưởng thành. Khi thấy bướm vào đèn dùng chất ly trích từ hạt xoan (neem) phun trừ: 1 kg bột hạt xoan nghiền nhỏ + 20 lít nước để dung dịch trong 24 giờ lọc bỏ bã + 2 cc chất dính. Ngưng phun 10 – 15 ngày trước thu hoạch để giữ cho vỏ quả được sạch đẹp.

đ) Rệp sáp phấn

Có 2 loài rệp sáp phấn gây hại là Planococcus sp. gây hại trên trái và loài Pseudococcus sp. gây hại trên lá.

* Nhận dạng

– Thành trùng cái không cánh, thân ngắn (3 mm), dẹt, được bao phủ bởi lớp sáp trắng, đẻ trứng thành từng ổ (100 – 200 trứng) trên trái, cành, lá. Một con cái có thể đẻ 600 – 800 trứng trong 14 ngày. Thành trùng đực có cánh, nhỏ hơn con cái.

– Ấu trùng mới nở màu hồng hay vàng nhạt, chưa có sáp (phấn), bò tìm chỗ thích hợp để ăn và sống.

* Tập quán sinh sống và cách gây hại

Loài Planococcus sp. gây hại phổ biến trên các vườn sầu riêng, chúng tấn công trên trái từ khi trái còn non, bám vào cuống trái non hoặc các rãnh giữa các gai để hút dịch vỏ trái.

Nếu mật độ rệp sáp cao: Giai đoạn trái non, trái sẽ bị biến dạng và rụng; giai đoạn trái lớn làm trái phát triển kém. Bên cạnh đó chất mật do rầy tiết ra thuận lợi để nấm bồ hóng phát triển, làm vỏ trái bị đen, giảm giá trị thương phẩm của trái.

Rệp thường nằm im một chỗ chích hút nhựa và được kiến mang đi khắp cây và có thể vào đất sống bám trên rễ cây tạo các nốt màu đỏ tía trên rễ. Rệp gây hại nặng vào mùa khô, nhất là tháng 2 – tháng 5. Độ ẩm trong vườn thấp và nhiệt độ cao rệp sinh sản nhanh.

* Phòng chống

– Bảo tồn thiên địch của rệp sáp phấn là bọ rùa, ong vò vẽ.

– Dùng vòi nước cao áp rửa sạch rệp phấn khỏi trái.

– Tỉa và tiêu hủy các trái kém phát triển và nhiễm rệp nặng.

– Tránh trồng xen với các cây dễ nhiễm rệp như mãng cầu, cà phê, đu đủ, hoa dâm bụt, tre.

– Dùng thuốc phun trừ rệp sáp phấn trên trái, cành. Đề phòng kiến mang rệp xuống gốc cây bằng cách buộc các băng vải có tẩm thuốc trừ sâu vào thân cây hoặc các cành mọc từ thân, tưới thuốc vào chung quanh gốc cây. Dùng các loại thuốc có gốc Dimethoate (min 95 %).

  1. Bệnh hại
  2. a) Bệnh thối gốc chảy nhựa (Phytophthora palmivora)

* Triệu chứng

Đây là bệnh hại rất nguy hiểm trên cây sầu riêng.

– Dấu hiệu đầu tiên của bệnh là những vết ướt trên vỏ thân gần mặt đất, vết bệnh cũng có thể bắt đầu từ những phần cao hơn. Phần vỏ cây nơi bị bệnh biến màu, thối và tiết ra nhựa cây đông đặc bên ngoài màu đỏ nâu. Phần gỗ bên trong vết bệnh cũng bị hóa nâu với những sọc ở rìa ngoài. Khi vết bệnh lan rộng và bao quanh thân, một số cành phía trên cằn cỗi, lá héo khô sau đó cành bị chết.

– Các rễ nhánh và rễ hấp thu nhiễm bệnh bị thối, khi bệnh lan rộng sang rễ chính toàn bộ cây bị chết. Triệu chứng thối rễ khó thấy hơn vì nằm ở dưới đất.

– Nấm bệnh còn gây hại trên lá và đọt non của cây. Vết bệnh trên lá là những đốm nhỏ sũng nước biến màu sau lan rộng ra có màu tối. Thường bệnh lan từ cành lên lá gây hiện tượng chết đọt.

– Trên trái bị bệnh có một vài đốm nhỏ màu nâu xám xuất hiện ở đáy quả, các đốm bệnh phát triển thành dạng tròn hay oval theo dọc chiều trái. Khi trái già dễ nứt, bị rụng trước khi chín. Nấm bệnh xâm nhập trái sầu riêng từ giai đoạn trái non đến trái già. Nếu ẩm độ trong vườn cao, vết bệnh xuất hiện những sợi nấm màu trắng.

* Điều kiện phát sinh phát triển

Nấm tồn tại rất lâu trong đất và phát triển mạnh trong điều kiện ẩm độ cao, nhất là trong mùa mưa; lây lan qua nước, gió, tàn dư thực vật và côn trùng.

  Ngoài sầu riêng, nấm có thể ký sinh trên nhiều loài cây trồng khác (100 loài), nhất là cây cao su, đu đủ, dứa, ca cao…

Các vườn cây hay bị úng nước, mật độ dày, thiếu phân hữu cơ, không có bờ hoặc mương ngăn nước chảy tràn từ các vườn sầu riêng khác; một số cây trồng bằng hạt có sức chống chịu kém, dễ bị bệnh xâm nhập và lây lan.

* Phòng chống

– Chọn giống có tính chống chịu bệnh cao để dùng làm gốc ghép như giống lá quéo. Chọn cây giống tốt, không trồng quá dày.

– Áp dụng các biện pháp canh tác (tưới nước, thoát nước, bón phân cân đối, sử dụng phân hữu cơ hoai mục) giúp cây khỏe mạnh tăng khả năng chống chịu.

– Cắt tỉa cành tạo tán cho vườn cây thông thoáng, tỉa và tiêu hủy các bộ phận (cành, lá, hoa, trái) bị bệnh.

– Ở những vườn trồng cây giống ươm từ hạt, nếu cây nào bị bệnh nặng và thường xuyên bị tái nhiễm thì tốt nhất là đốn bỏ và trồng bằng cây giống khác ít bị nhiễm bệnh.

– Bón vôi tăng pH của đất trên vườn lên 6,5.

– Bón nấm Trichoderma spp để phòng bệnh: 1 kg nấm + 10 kg cám gạo + 40 kg phân hữu cơ hoai mục, rải hỗn hợp trên đất nơi có rễ con mọc. 

+ Trước khi trồng: 1kg hỗn hợp/cây.

+ Cây nhỏ (< 5 tuổi) : 2 – 3 kg hỗn hợp/cây.

+ Cây lớn (> 5 tuổi) : 4 – 5 kg hỗn hợp/cây.

– Dùng thuốc hóa học:

+ Phát hiện thật sớm cây bị bệnh chảy mủ và cạo sạch vết bệnh và dùng thuốc liều lượng từ 30 – 50 g/1 lít nước để quét lên vết bệnh vài lần. Có thể dùng các loại thuốc có gốc Dimethomorph (min 99.1%) 90g/kg + Mancozeb 600 g/kg, Mancozeb 640 g/kg + Metalaxyl-M 40 g/kg tưới quanh gốc.

  1. b) Bệnh cháy lá (Rhizoctonia)

* Triệu chứng

– Ban đầu trên lá xuất hiện các đốm bệnh sẫm màu, mọng nước và có dạng bất định, sau đó lan rộng dọc theo hai mép lá, vết bệnh chuyển màu nâu sáng giống như bỏng nước sôi. Điều kiện thích hợp bệnh phát triển nhanh tạo ra các chòm lá biến màu nâu sáng, sũng nước, kết dính với nhau và hạch nấm xuất hiện trên phiến lá. Sau đó nhiều lá bệnh bị khô rụng, cành bị khô chết.

– Triệu chứng bệnh có thể xuất hiện ở chóp lá, giữa lá hay toàn bộ bề mặt của lá. Bệnh gây trụi lá, chết cành.

– Cây con bị nhiễm bệnh thường lá ngọn bị cháy và rụng, sau đó làm khô ngọn và chết cả cây. Cây trưởng thành nhiễm bệnh làm lá non bị khô và rụng, chết ngọn, cành và nhánh nhỏ, ảnh hưởng rất lớn đến năng suất.

* Điều kiện phát sinh phát triển

– Nấm có phổ ký sinh rất rộng, ngoài sầu riêng còn có thể gây hại trên nhiều cây trồng khác.

– Bệnh phát triển mạnh vào mùa mưa, nhất là tháng 7 – 10.

– Sợi nấm lây lan nhờ nước, gió.

– Lá nhiễm bệnh và hạch nấm rơi xuống đất, tích lũy trong đất là nguồn truyền bệnh. Nấm có thể tồn tại rất lâu trong đất.

* Phòng chống

– Cắt tỉa các cành sát đất (cành thấp nhất cách mặt đất 1 – 1,5 m), tỉa cành, tạo tán; tránh để vườn cây rậm rạp, giao tán quá nhiều.

– Vệ sinh, thu dọn, gom và đốt sạch các cành lá bệnh dưới tán cây.

– Bón hỗn hợp nấm Trichderma spp. vào gốc để diệt nấm.

– Bệnh nặng (trên 10% lá tiền trưởng thành bị bệnh) dùng các loại thuốc có hoạt chất Chitosan để phun.

  1. c) Bệnh thán thư (Colletotrichum gloeosporioides – có tác giả cho là C. zibethinum)

* Triệu chứng

– Là bệnh khá phổ biến, bệnh thường xuất hiện trên những lá đã trưởng thành ở khu vực từ giữa tán trở xuống mặt đất.

– Trên lá vết bệnh thường bắt đầu từ mép lá hay chóp lá lan dần vào trong, dạng gần tròn hay bất định. Vết bệnh màu nâu đỏ bên trong có những đường viền gợn sóng màu nâu sậm xếp gần như đồng tâm với nhau. Vết bệnh già lợt dần màu nâu, trên đó nấm thành lập ổ trông giống đầu kim màu đen. Bệnh nặng làm lá khô cháy và rụng sớm làm cành cây trơ trụi chết khô.

– Bệnh hại cây con làm cây kém phát triển và có thể chết, bệnh không làm chết cây lớn.

Bệnh thường xuất hiện và gây hại ở giai đoạn nẩy lộc – ra hoa và trên cây kém phát triển, nhất là trong mùa nắng hay sau khi thu hoạch (tháng 7 – tháng 12). Bào tử nấm lây lan nhờ gió, nước.

* Phòng chống

– Chăm sóc vườn cây đúng quy trình kỹ thuật, chú ý bón đầy đủ phân hữu cơ và vô cơ, cung cấp nước đầy đủ cho cây sinh trưởng và phát triển bình thường.

– Tạo vườn thông thoáng, tỉa bỏ và tiêu hủy những cành, lá bị bệnh nặng.

– Gom sạch các lá bệnh bị rụng tiêu hủy.

– Khi bệnh phát triển nặng, phun những nhóm thuốc có đăng ký phòng trị bệnh trên cây sầu riêng.

  1. d) Bệnh mốc hồng (Corticium salmonicolor)

* Triệu chứng

– Thường xuất hiện trên cành và thân, nhất là ở phía trên của những chỗ phân cành của cây (phần hướng lên trời) bị che kín không có ánh nắng. Vì thế, nếu ở dưới đất nhìn lên rất khó phát hiện bệnh.

– Đầu tiên, trên mặt vỏ cây có lớp tơ nấm màu trắng bò lan, sau vết bệnh chuyển dần sang màu hồng nhạt phát triển xung quanh vỏ cành cây, nấm hút dinh dưỡng làm vỏ cành chỗ bị hại khô và rụng lá cả cành. Đôi khi không thấy các mảng màu hồng mà chỉ thấy các gai màu hồng phát triển từ các vết nứt trên vỏ thân hay nhánh. Nhánh bệnh bị khô và chết dần.

* Điều kiện phát sinh phát triển

– Ngoài sầu riêng, nấm còn gây hại trên các cây trồng khác như: Điều, cà phê, cao su, cây có múi, mãng cầu, chôm chôm…

– Thường sau các trận mưa, bào tử nấm được phóng thích rất nhiều và lây lan theo gió. Đảm bào tử có thể nẩy mầm ở điều kiện 18 – 32oC.

– Bệnh phát triển mạnh trên những tán lá rậm rạp và che khuất lẫn nhau. Các vườn sầu riêng tiếp giáp vườn cây cao su dễ nhiễm bệnh này hơn.

* Phòng chống

– Trồng cây với mật độ và khoảng cách thích hợp.

– Cắt tỉa cành, tạo tán, thông thoáng vườn cây.

– Tỉa và tiêu hủy các cành nhỏ bị bệnh.

– Quét lên thân, cành bệnh bằng các thuốc gốc đồng; Champion, Bordeaux 1%, các thuốc chứa gốc Validamycine.

đ) Bệnh đốm rong (do tảo Cephaleuros virescens)

* Triệu chứng

– Trên lá có những đốm lồi hình sao màu xanh lục nhạt. các đốm này lan rộng hơn khi độ ẩm cao và đủ ánh sáng. Bệnh thường xuất hiện ở mặt trên của lá, vết bệnh già có màu nâu đỏ, nếu nhìn kỹ thấy nhiều sợi tơ trên vết bệnh, mặt dưới của vết bệnh có thể thấy mô lá bị hoại và cả sợi tảo mọc xuyên qua. Đây là giai đoạn sinh sản và lây lan bệnh. Triệu chứng ở lá không gây hại nặng chỉ làm giảm quang hợp và bẩn lá.

– Đốm bệnh trên cành có màu đỏ nâu (giống như nhung khi soi dưới kính loup), nhất là trên những cành của cây sầu riêng non (từ 01 – 02 năm tuổi) ít được che bóng và nắng quá nhiều.

– Bệnh làm cành bị khô yếu, vỏ nứt nẻ, dễ tạo điều kiện cho nấm Phytopthora palmivora xâm nhập, nhất là trong mùa mưa.

* Điều kiện phát sinh phát triển

– Bệnh phát triển quanh năm, nhất là các tháng mưa nhiều.

– Bệnh lan truyền bởi gió, nước.

– Lá già tái sinh đốm rong và lan truyền bệnh.

– Bệnh thường xuất hiện trên các lá tiền trưởng thành, lá già.

* Phòng chống

– Giống như bệnh mốc hồng.

Nguồn: hoinongdan.dongnai.gov.vn

 

Tôi Nguyễn Hoàng người đã viết và sưu tầm chia sẻ các nội dung hay tại website Hoàng Anh mall, anh chị thấy điều gì sai sót mong được anh chị phản hồi phần bình luận. Nếu anh chị có nhu cầu liên kết đăng bài viết tại Hoàng Anh vui lòng liên hệ 0868828681. Hoàng cảm ơn!

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

0934988880